Những điều về hộ khẩu có thể bạn chưa biết

Hộ khẩu là hình thức quản lý điển hình tại Trung Quốc và Việt Nam. Chế độ hộ khẩu đã được áp dụng hơn 50 năm trên đất nước của chúng ta. Theo báo cáo gần đây của Ngân hàng Thế giới và Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, hộ khẩu đã và đang tiếp tục là một lực cản lớn cho sự phát triển xã hội.
Hộ khẩu là một công cụ quản lý của Nhà nước
Hộ khẩu là một công cụ quản lý của Nhà nước
Báo cáo "Hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam" được công bố ngày 16/06/2016 đã đưa ra một cái nhìn tổng thể về lịch sử hình thành và những tác động của chế độ hộ khẩu đối với đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân.
Nhà vuông xin sơ lược 9 điểm chính pháp lý và quyền con người mà báo cáo đã đưa ra liên quan đến hệ thống đăng ký hộ khẩu của chúng ta.

1. Theo hình mẫu của Trung Quốc, chế độ hộ khẩu tại Việt nam được áp dụng nhằm kiểm soát trật tự xã hội và phục vụ cho mục đích quản lý Nhà nước về nhiều mặt.

Hiến pháp Việt Nam năm 1960 công nhận quyền tự do đi lại và quyền cư trú của công dân là quyền hiến định. Sau đó, những bản Hiến pháp sửa đổi các năm 1980, 1992, và 2003 đều có những quy định tương tự.
Trước đó, vào năm 1954, sau khi tiếp quản miền Bắc, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa thành lập đã nghiên cứu áp dụng chế độ hộ khẩu do lo ngại hai mối quan ngại chính.
Đầu tiên, chính quyền non trẻ vừa thành lập có những mối lo ngại về các thế lực chống đối, thù địch và cần phải kiểm soát an ninh.
Điều nữa, tốc độ đô thị hóa nhanh, việc di dân từ nông thôn ra các đô thị diễn ra với số lượng lớn dẫn đến vấn đề thất nghiệp, điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch phát triển của Nhà nước.
Vì vậy, một vấn đề quan trọng cần phải thực hiện là hạn chế tự do đi lại, di chuyển của nhân dân, và chế độ hộ khẩu là một phương tiện tối ưu cho mục đích này.
Với hình mẫu gốc là hệ thống hộ khẩu của Trung Quốc, Việt Nam xây dựng và áp dụng nhằm quản lý người dân về mặt kinh tế cũng như kiểm soát an ninh trật tự xã hội.

2. Luật pháp giới hạn quyền tự do đi lại và cư trú của người dân từ 7 năm trước khi hệ thống hộ khẩu được áp dụng chính thức.

Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Thông tư 495-TTg và đưa ra các quy định về một số biện pháp hạn chế cư dân các vùng nông thôn di chuyển đến các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng vào năm 1957.
Nhưng đến 7 năm sau, vào năm 1964, khi Nghị định 104-CP được ban hành thì chế độ hộ khẩu mới chính thức được áp dụng tại miền Bắc Việt Nam. Quyết định này được đưa ra theo yêu cầu của Bộ Công an, là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm thi hành, với lý do tăng cường bảo đảm an ninh cho đất nước trong thời kỳ chiến tranh.
Hệ thống này được áp dụng cho cả nước từ sau tháng 04/1975.

3. Chế độ hộ khẩu hầu như không thay đổi trong gần 40 năm.

Nghị định 104-CP ban hành năm 1964 có quy định quan trọng nhất là: mỗi công dân chỉ được đăng ký là nhân khẩu thường trú tại một và chỉ một hộ gia đình. Việc di chuyển chỉ được phép khi có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
Những quy định trong hệ thống hộ khẩu có sửa đổi đôi chút vào những năm 1988 và 1997. Tuy nhiên, tinh thần của Nghị định năm 1964 về cơ bản vẫn được giữ nguyên cho đến khi ra đời Luật Cư trú vào năm 2006.
Chế độ hộ khẩu hiện hành được áp dụng theo quy định trong luật Cư trú năm 2006, đã có sửa đổi vào năm 2013, 2014. Tuy nhiên tại Hà Nội, quy định hộ khẩu còn dựa theo một số quy định dành riêng cho thủ đô, áp dụng theo Luật Thủ đô ban hành vào năm 2012.

4. Trước đổi mới, công dân không có đủ quyền dân sự và dịch vụ do Nhà nước cung cấp nếu không có hộ khẩu.

Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia khác biệt nhất trên thế giới trong việc gắn cung cấp dịch vụ xã hội với chế độ hộ khẩu.
Trước năm 1986, những quy định của chế độ hộ khẩu trói chặt người dân với việc phân phối lương thực, đất đai, nhà cửa, giáo dục, y tế và việc làm. Gần như các quyền dân sự chỉ được cung cấp và bảo đảm khi công dân có hộ khẩu vì công dân bị quản lý trực tiếp bởi Nhà nước thông qua hợp tác xã và những đơn vị sử dụng lao động. Việc chuyển hộ khẩu từ nơi này sang nơi khác trước năm 1987, về mặt lý thuyết là vẫn có thể thực hiện được, nhưng trong thực tế thì vô cùng khó khăn.
Từ khi mở cửa đổi mới, tuy duy về sở hữu và quản lý kinh tế khác đi, sở hữu tập thể và chế độ bao cấp, phân phối của Nhà nước dần bị thay thế. Chế độ hộ khẩu tuy vẫn tiếp tục tồn tại nhưng quyền và vấn đề sinh kế của công dân đã được cải thiện đáng kể so với trước kia.

5. Những cải cách lớn về chính sách hộ khẩu của Luật Cư trú năm 2006.

Từ năm 2006 trở về trước, hộ khẩu ở Việt nam có 4 hình thức đăng ký là KT1, KT2, KT3 và KT4. KT1 là hình thức đăng ký hộ khẩu cho những người thường trú. KT2 là hình thức đăng ký dành cho những người vẫn ở trong tỉnh, thành phố nhưng khác quận, huyện. KT3 là hình thức đăng ký dành cho những người tạm trú dài hạn. Cuối cùng, KT4 là hình thức đăng ký dành cho những người cư trú tạm thời.
Từ năm 2006, với sự ra đời của Luật Cư trú, 4 hình thức đăng ký hộ khẩu trên được gộp thành hai loại là tạm trú và thường trú. Tuy nhiên, tình trạng phân biệt KT3 và KT4 vẫn diễn ra trong thực tế. Các điều kiện xin đăng ký hộ khẩu thường trú cũng được giảm đáng kể. Để xin được hộ khẩu ở những thành phố, đô thị lớn, công dân chỉ buộc phải ở đó liên tục 1 năm thay vì 3 năm như trước kia. Luật Cư trú cũng đơn giản hóa thủ tục chuyển đổi hộ khẩu. Cải cách lớn nhất là giấy xinh xác nhận tạm vắng khi di chuyển từ nơi này sang nơi khác đã được bãi bỏ. Các điều kiện về xuất trình giấy tờ chứng thực việc làm hoặc giấy nhập học ở nơi đến cũng được bãi bỏ.

6. Năm 2013, Luật Cư trú sửa đổi lại thắt chặt việc đăng ký thường trú tại các thành phố lớn, trực thuộc trung ương.

Bộ Công an đã phê phán Luật Cư trú 2006 quá lỏng lẻo và đưa ra những khó khăn về việc gia tăng mạnh các trường hợp thay đổi hộ khẩu, đặc biệt là ở các thành phố lớn từ khi luật này có hiệu lực.
Đó là lý do chính năm 2013 luật này được sửa đổi, theo hướng thắt chặt đáng kể những yêu cầu với việc đăng ký hộ khẩu thường trú. Thời gian ở liên tục tại những thành phố trực thuộc trung ương tăng lên 2 năm thay vì 1 năm như trước kia. Ngoài ra, luật cũng đồng ý cho chính quyền địa phương các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, và Hải Phòng có thẩm quyền thiết lập các chính sách cư trú riêng.
Luật cư trú được quy định chặt chẽ hơn tại các thành phố lớn. Chẳng hạn tại Hà Nội, thêm quy định từ Luật Thủ đô (năm 2012) yêu cầu công dân phải sống liên tục trong 3 năm đối với người xin hộ khẩu thường trú (Luật Cư trú chung của cả nước là 2 năm), kèm theo đó là yêu cầu tối thiểu về nhà ở.
Với những điều trong ví dụ vừa nêu, những sự nới lỏng của Luật Cư trú 2006 lại bị thắt chặt, làm cho hệ thống hộ khẩu Việt Nam mất đi bước tiến bộ.

7. Xin việc trong các cơ quan Nhà nước bị phân biệt đối xử khi không có hộ khẩu thường trú.

Theo các thống kê của báo cáo, khi xin việc trong các cơ quan nhà nước, những công dân không có hộ khẩu thường trú gần như không có khả năng tiếp cận cơ hội việc làm. Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh từ lâu đã áp dụng chính sách bắt buộc đăng ký thường trú đối với các công việc công chức thông thường và chỉ miễn cho những trường hợp đặc biệt.
Ở mặt khác, cũng theo những kết quả của các cuộc khảo sát được thực hiện. Trong môi trường làm việc ngoài nhà nước, hiện tượng phân biệt đối xử với lao động dựa trên tình trạng hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú hầu như không còn. Số còn lại chỉ là cá biệt.
Cũng theo báo cáo, các yêu cầu khắt khe về đăng ký thường trú kèm theo đặc quyền mà nó có, như là được biên chế nhà nước, đã dẫn đến thực trạng công dân phải hối lộ thêm những khoản phí không chính thức để có được hộ khẩu thường trú và cả tạm trú.

8. Trẻ em và phụ nữ là những đối tượng gặp nhiều sự phân biệt đối xử nhất từ hệ thống đăng ký hộ khẩu.

Trẻ em không có hộ khẩu thường trú hầu như không có cơ hội học tập trường công. Sự bất bình đẳng tăng thêm cho các bé gái. Các số liệu thống kê cho thấy, phụ huynh Việt nam nỗ lực, và dành nhiều chi phí hơn trong việc giúp con trai họ vượt qua các rào cản hộ khẩu để có một môi trường giáo dục tốt hơn. Nỗ lực, sự giúp đỡ và tài chính sẵn sàng bỏ ra dành cho các bé gái là ít hơn.
Chế độ hộ khẩu ở Việt Nam là nguyên nhân chính làm cho một bộ phận trẻ em dưới 6 tuổi không có được bảo hiểm y tế. Phụ nữ lại là đối tượng phải chịu trách nhiệm chính trong việc tìm phương pháp xử lý để giúp con mình được tiếp cận bảo hiểm y tế.
Thêm nữa, công dân không có hộ khẩu thường trú thường phải chịu chi phí cho y tế, giáo dục cao hơn. Và thường bị chỉ định những dịch vụ y tế, giáo dục xa nơi mình cư trú. Tình trạng cư trú đã làm cho một bộ phận lớn công dân bị phân biệt đối xử trong khi tiếp cận các dịch vụ công và nhiều vấn đề hành chính hàng ngày.
Ngoài ra, người tạm trú cũng có ít cơ hội hơn trong việc tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động cộng đồng và các tổ chức ở địa phương. Và trong thực tế, người tạm trú hầu như không được đưa vào những danh sách được nhà nước hỗ trợ, ví dụ như hộ nghèo. Thậm chí, các chi phí như giá điện, nước, sinh hoạt... người tạm trú cũng phải trả một mức giá cao hơn.

9. Luật Hộ tịch mới năm 2016 mang lại những điều mới mẻ.

Một trong những điều gây mất thời gian, chi phí mà hệ thống hộ khẩu gây ra cho những người không có hộ khẩu thường trú là họ phải về nguyên quán để làm những thủ tục hành chính cơ bản. Ví dụ như đổi, làm lại chứng minh thư, khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn, xác nhận tình trạng hôn nhân...
Luật Hộ tịch mới năm 2016 cải thiện phần nào được điều này. Theo điều 5 của luật này, thủ tục hộ tịch đối với khai sinh, đăng ký kết hôn có thể được thực hiện tại nơi cư trú hiện tại của một người dù họ không đăng ký tạm trú hay thường trú ở nơi đó.
Ngoài ra, đang có những xu hướng mới theo cách quản lý công dân bằng thẻ căn cước như nhiều nước trên thế giới, khi đó những giấy tờ như chứng minh thư hay chế độ hộ khẩu có thể được thay thế.

Nhà vuông

Nhà vuông cảm ơn các bạn đã theo dõi bài đăng!
Mọi vấn đề cần tư vấn, đóng góp ý kiến, xin gọi số 0936 80 12 16
    Comment
    Comment

0 nhận xét :

Đăng nhận xét